Khi kinh phí một phim quá 100 triệu đôla, tiền đó luôn chảy vào phim
siêu anh hùng, phim phần tiếp theo hay phim làm lại. Chứ không phải một
phim dựa trên những giờ phút cuối cùng của một giàn khoan dầu có số phận
bi thảm qua đời trong bão lửa dẫn đến một trong những thảm họa môi
trường lớn nhất lịch sử nước Mỹ.
Từ trái qua: John Malkovich, Gina Rodriguez, Kurt Russell và Mark Wahlberg trong phim Deepwater Horizon
|
“Tôi dành cho Lionsgate sự tin cậy lớn lao để đặt cược khoản tiền
‘khủng’ vào một câu chuyện rõ ràng đi ngược lại khuynh hướng những gì
Hollywood đang làm lúc này,” Lorenzo di Bonaventura, nhà sản xuất kỳ cựu
đã chăm sóc
Deepwater Horizon, nói. “Tất cả là trực giác. Và trực giác đã không hề nhắm mắt làm ngơ.”
Nhưng
đã có biết bao gập ghềnh suốt dọc đường đi chco một hãng phim tầm trung
như Lionsgate mạo hiểm ra khỏi vùng an toàn của mình, nơi mà những phim
kinh phí chín chữ số thường dành cho những chuỗi phim đã được chứng
minh là hiệu quả (dựa theo tiểu thuyết) của hãng như
The Hunger Games.
Thuê
một đạo diễn phim độc lập được ca ngợi làm phim kinh phí lớn đầu tiên
của mình được xúc tiến khi hãng phim và các nhà sản xuất dội ngược trước
cách xử lý kính vạn hoa của anh ta cho cái đêm định mệnh đó. Kết quả
là gấp rút tìm cho ra một đạo diễn mới và hoàn tất bộ phim trước khi mùa
bão tố ập tới. Và cái ác cảm thâm căn cố đế gây bực mình của các hãng
phim Hollywood là cỗ máy quảng cáo nện ầm ầm vào một trong những yếu tố
bất ngờ hơn — phê phán chọc thẳng vào lòng tham của doanh nghiệp.
Quyết định sáng tạo và quyết định làm ăn như thế này giúp giải thích lý do, khi
Deepwater Horizon
ra rạp ngày 30/9, đây sẽ là một phim thảm họa sử dụng sức mạnh ngôi sao
hứa hẹn với khán giả một trải nghiệm xác thực. Khi mà tuần mở màn gần
như luôn đem lại phán quyết tối hậu cho thành công thương mại (hay thất
bại) của một phim kinh phí lớn,
Deepwater Horizon cung cấp một
trường hợp nghiên cứu cho lý do chúng ta có nhiều lựa chọn. Ngay cả với
một hãng phim chấp nhận cơ hội tốn kém một cách đáng nể phục, thì cũng
là một việc làm quá sức mạo hiểm.
Ngôi sao đang lên Dylan O'Brien tham gia Deepwater Horizon
|
Đêm 20/4/2010, một loạt những vụ nổ xé toạc giàn khoan Deepwater Horizon
ngoài khơi Louisiana, nối tiếp sự bục vỡ giếng dầu sâu bên dưới hàng
ngàn bộ. Trong cơn hoảng loạn sau đó, 11 người đã chết và hàng chục
người bị thương, trong khi hàng triệu thùng dầu thô lập tức tràn khắp
Vịnh Mexico.
Tám tháng sau,
The New York Times đăng tải
tái dựng chi tiết cho thấy giàn khoan đã thất thủ giữa cơn thảm họa như
thế nào, những tín hiệu và sự hỏng hóc bị bỏ qua và đội giàn khoan tuyệt
vọng — và vào thời khắc oanh liệt — nỗ lực cứu con tàu và sau đó là cứu
chính mình như thế nào.
Bài báo lấy được sự chú ý của Hollywood.
Erik Feig, lúc đó là điều hành cấp cao của Summit Entertainment (đã bị
Lionsgate thâu tóm năm 2012), nói anh nhận ra tiềm năng trong một câu
chuyện về những con người từ những nền tảng khác nhau quần quật với công
việc phức tạp, dưới áp lực cực điểm và đôi khi có chương trình làm việc
khác nhau. Rồi, khi mọi sự dường như đồng loạt đổ vỡ, theo cách tồi tệ
nhất có thể, nhiều người trong số họ cùng nhau giúp đỡ lẫn nhau để sống
còn.
Đối với một nhà điều hành Hollywood, thảm họa giàn khoan Deepwater không thể nào được viết hay hơn thế nữa.
“Các
nhà BP quả là có đến giàn khoan để trao giải thưởng an toàn đúng vào
ngày giàn khoan đó nổ tung,” Feig, hiện là đồng chủ tịch nhóm điện ảnh
tại Lionsgate, nói. “Đó đúng là một miêu tả bi kịch mỉa mai.”
Nhân vật trung tâm của bộ phim đặt trên vai ngôi sao Mark Wahlberg
|
Cũng thời gian đó, biên kịch Matthew Sand kết nối với di Bonaventura.
Chào hàng của họ là một phim người hùng kinh điển Hollywood, tập trung
vào một kỹ thuật viên điện tử có tên Mike Williams, và Summit cùng
Participant Media ký kết.
Williams không phải là nhân vật trung
tâm trong nhiều thảm họa ập xuống giàn khoan Deepwater Horizon, nhưng
anh là nhân vật quan trọng trong chương trình
60 Minutes hồi
tháng 5/2010. Là một trong những người cuối cùng trên giàn khoan cháy
bùng khi anh quăng mình xuống nước, anh có thể đóng vai trò thay khán
giả dấn thân vào một thế giới phức tạp.
Nhưng sau khi đạo diễn
phim độc lập J. C. Chandor được tiếp cận năm 2014, trông tâm của bộ phim
bị thay đổi. Chandor — đã viết kịch bản phim đầu tay của anh,
Margin Call, thu hoạch một đề cử Oscar kịch bản gốc xuất sắc — thấy mình bị cuốn hút bởi những tình tiết của vụ thảm họa.
Trong
phim mới nhất của mình, A Most Violent Year, lấy bối cảnh lĩnh vực kinh
doanh dầu thập niên 1980 ở New York, Chandor đã lật đổ phép chuyển
nghĩa của thể loại phim tâm lý-tội phạm.
Deepwater Horizon cho
anh cơ hội tương tự. Hollywood khoái những phim
“dựa-theo-chuyện-có-thật”, dù là pha trộn giữa sực việc và nhân vật thật
với truyền thống kể chuyện nhẹ như không. Trong trường hợp này, Chandor
định làm một phim trung thành với sự thật, những người liên quan đến
xuất phẩm này cho biết.
Trường quay Deepwater Horizon
|
Khát vọng về sự chân thực bắt đầu có hình dạng cụ thể trông bãi đỗ xe
của một công viên giải trí chủ đề bỏ hoang ở New Orleans. Một mô hình
giàn khoan Deepwater Horizon được dựng ở mức 85% so với thật, có một bãi
đáp trực thăng cao 73 bộ. Sử dụng đến 3,2 triệu pound sắt cho giàn
khoan giả, và gần tám tháng xây dựng. Và để tái hiện Vịnh Mexico, một bề
nước bên dưới cấu kiện này chứa đến 2,1 triệu gallon nước. Chris
Seagers, dựng phim, nói rằng mất cả tuần mới đổ đầy nước vào bể.
Giá thành, theo các nhà điều hành liên quan đến bộ phim: hơn 10 triệu đôla.
Nhưng
đầu năm 2015, hãng phim và các nhà sản xuất bắt đầu lo lắng rằng tầm
nhìn cho bộ phim đã bị xa rời. Kịch bản nháp của Chandor đẩy toàn bộ bản
chất của đêm thảm họa đó lên hàng đầu; hãng phim thì đã cam kết là một
phim do sao dẫn dắt.
“Họ rất lo ngại,” Mark Wahlberg, người đảm
nhận vai Mike Williams và cũng là một trong những nhà sản xuất bộ phim
này, nói. “Đây không phải loại phim họ từng làm.”
Lionsgate và
Summit (trước khi bị thâm tóm) hiếm khi chơi trên sân kinh phí lớn đến
như vậy; những nguồn lực cỡ đó luôn chỉ dành vào các bom tấn dựa theo
tiểu thuyết cho tuổi mới lớn như
Twilight và
The Hunger Games.
Một bom tấn kiểu tài liệu tốn hơn 100 triệu đôla (ngay cả sau khi được
ưu đãi thuế của bang Louisiana) dứt khoát không nằm trong buồng lái của
họ. Và cái thời của những phim thảm họa thập niên 1970 với cả dàn sao
(như
Airport) đã qua lâu rồi ở Hollywood, khi những phim đồng
diễn đắt tiền được dành gần như độc quyền cho Avengers và những siêu anh
hùng cùng loại.
Di Bonaventura thấy mình bị trói buộc với kiểu nhà sản xuất kinh điển:
Liệu ông nên bảo vệ tầm nhìn của đạo diễn hay giao phó cho hãng phim?
Ông đã chọn hãng phim.
“Tôi tin rằng phiên bản dựa vào ngôi sao
của bộ phim này sẽ là phim sinh lời nhiều hơn,” di Bonaventura nói. “Và
chung quy, tôi đã đi đến chỗ tin rằng đó sẽ là phim làm thỏa mãn hơn, vì
bạn có thể đặt cảm xúc của mình và một nhóm nhỏ những con người và do
đó có thể quyết định cốt truyện nói gì.”
“Khán giả thích sao, còn các sao thì cần những vai diễn lớn,” ông nói thêm.
Đến cuối tháng 1/2015, Chandor rời dự án.
(Khi
được liên hệ cho bài báo này, Chandor chỉ muốn nói rằng “Tôi luôn nghĩ
đây là một câu chuyện hấp dẫn lạ thường, và tôi trông đợi được xem bộ
phim hoàn chỉnh.”)
Lionsgate và các nhà sản xuất quay sang Peter Berg, vài năm trước từng được mời làm một phim.
Giúp ích cho sự chuyển tiếp này nhờ anh đã làm việc với Wahlberg (
Lone Survivor) và biên kịch Matthew Michael Carnahan (
The Kingdom).
Rất quan trọng, vì chỉ còn vài tháng nữa là bắt đầu sản xuất. (Chỉ có
thể chậm lại tối đa hai tuần, trước khi mùa bão tố ập tới và cửa chớp
thời gian có thể sẵn sàng tham gia của diễn viên đóng lại.)
Mark Wahlberg, trái, và đạo diễn Peter Berg trên trường quay Deepwater Horizon
|
Đạo diễn Berg, thường làm phim pha trộn nam tính và chủ nghĩa anh hùng,
hợp lý hóa kịch bản, một lần nữa đẩy nhân vật của Wahlberg lên tiền
tuyến và trung tâm và mở rộng những cảnh về đời sống gia đình của anh.
Giờ đây, bộ phim dài 107 phút được chia gần như bằng nhau cho việc giới
thiệu các nhân vật và giàn khoan, và toàn bộ thảm họa.
Đó là một cách phân chia không điển hình — phim thảm họa luôn thiên về thảm họa — kích hoạt tranh cãi.
“Nghe
này, hãng phim có nỗi lo, Pete và tôi cũng lo, mọi người đều lo,” di
Bonaventura nói. “Nếu ai nói không có lo lắng, thì là không nói thật.”
Tuy
các nhà làm phim nói họ cố hắng trung thành hết mức có thể với sự kiện
thật, vẫn có chút tùy nghi nào đó. Các nhân vật chưa bao giờ tương tác
trên giàn khoan xuất hiện cùng nhau. Diễn biến được điều chỉnh. Và trong
đời thật, nhân vật của Gina Rodriguez, một nhân viên điều vận có tên
Andrea Fleytas, không có vai trò gì trong cảnh cao trào như trên phim.
Tuy nhiên,
Deepwater Horizon,
không thuần túy là phim truyền tải thông điệp. Đây là phim can
đảm-trong-biển lửa, với một trong những ngôi sao có thù lao cao nhất của
Hollywood ở vai diễn trung tâm. Và liệu phiên bản
Deepwater Horizon
này cộng hưởng đủ để biện minh cho kinh phí lớn của nó hay không rất có
thể định đoạt chuyện các hãng phim có hào phóng với những bản chuyển
thể sự kiện có thật trong tương lai.
Mike Williams của Mark Wahlberg và Andrea Fleytas của Gina Rodriguez trong một cảnh phim khi thảm họa đã nổ ra trên giàn khoan
|
“Tôi muốn người ta kể lại những câu chuyện như thế này lần nữa,” di
Bonaventura nói, “và nếu bạn không đảm bảo có lời thì đừng làm. Nhất là
trong khí quyển của Hollywood.”
Lược dịch: © Ngân Mai @Quaivatdienanh.com
Nguồn: The New York Times